Ôn Chiếu nghe đến “số lượng muối lậu khổng lồ” liền bừng tỉnh. Triệu Quận vương và số lượng muối lậu khổng lồ — đáp án quá rõ ràng.
Vụ án của Ôn phủ, dù có làm sáng tỏ cũng khó mà khiến cả triều đình chấn động, vì triều đại nào mà chẳng có án oan. Nhưng mưu đồ soán vị thì lại khác, đó là tội ác khiến người người đều muốn trừ khử. Giành lại công lý cho Ôn phủ là việc riêng của Ôn Chiếu, còn tiêu diệt phản nghịch là trách nhiệm của những kẻ trung thần yêu nước.
Thận vương mưu phản không phải không có sơ hở, một số đại thần đã nhận ra điều đó nhưng chưa có bằng chứng xác thực. Ôn Chiếu đã khéo léo tiếp xúc với các bộ, âm thầm phơi bày dã tâm của Thận vương. Cuối cùng, cùng sự góp sức của các vị trung thần, hành vi buôn lậu muối, chế tạo vũ khí và chiêu binh mãi mã của Triệu Quận vương đã bị đưa ra ánh sáng.
Do Đô Sát Viện dẫn đầu điều tra bí mật, bằng chứng thu thập được trình lên Hoàng đế và cũng cùng lúc ấy, Trương Lương Nghi – người mà Thận vương đã dụ dỗ từ lâu – “cuối cùng” cũng cúi đầu trước bổng lộc Thận vương hứa hẹn.
Bọn họ hợp lực bày ra vở kịch đêm qua. Vị đại thần bị Thận vương c.h.é.m c.h.ế.t quả là đáng kính, ông đã chuẩn bị tinh thần hy sinh từ trước, tự nguyện đứng hàng đầu cùng các đại thần khác.
Còn Tề Tuyên, cậu quả thật được triệu vào kinh, nhiệm vụ của cậu là đưa tin về Tây Thùy, phối hợp với Từ Tướng quân diễn màn kịch này, tạo ấn tượng rằng Từ Tướng quân vẫn luôn ở Tây Thùy.
Thận vương cho rằng Hoàng đế quá nhân từ, nhưng ta lại biết ơn sự nhân từ đó. Nếu không phải những năm qua ngài nỗ lực giảm nhẹ thuế khóa, khuyến khích dân sinh, thì dân chúng đã chẳng an cư lạc nghiệp như thế và tiệm mì của ta ở huyện Hoa Tuyền cũng chẳng thể làm ăn yên ổn.
Nghe xong mọi chuyện, ta không kìm được hỏi đến Hà Văn Mậu, rằng cậu ta đã đóng vai trò gì trong vụ từ hôn năm đó.
“Hắn nói hắn thật lòng muốn cưới tỷ tỷ đệ, chuyện từ hôn không phải ý của hắn.”
Ôn Chiếu nhấp ngụm trà lạnh, khản giọng hỏi ta: “A tỷ, đệ thay một người hỏi lại tỷ lần nữa, tỷ thực lòng không có tình ý với huynh ấy sao?”
Ta ngoảnh mặt đi: “Sao hắn không tự đến mà hỏi?”
Ôn Chiếu trợn mắt, kéo ta xuống khỏi mái nhà, chỉ ra cửa: “Ra ngoài.”
Ta bực bội cấu mạnh một cái vào tay cậu, thằng nhóc này lớn gan thật, dám đối xử với ta như vậy.
Ôn Chiếu ôm tay đau đớn, giọng yếu ớt, chậm rãi nói: “A tỷ, tỷ ra ngoài thì biết.”
Ta khó hiểu bước ra cửa, liền nhìn thấy một nam nhân thanh tú trong bộ trường bào xanh biển đang khoanh tay dựa vào cửa, vẫn vẻ ung dung như sáu năm trước.
“Mạnh Thu, ta giúp cô việc lớn như vậy, cô định cảm ơn ta thế nào đây?”
Ta không biết nên nhìn vào đâu, liền vờ như bận rộn, đáp qua loa: “Mời huynh ăn một bát mì thịt băm nấm hương nhé.”
Tề Tuyên bật cười, bước lên nắm tay ta: “Được thôi, Tề Tuyên ta chính là người được đằng chân lân đằng đầu.”
Ngày mùng Một, chúng ta cùng đến chùa dâng hương cho Ôn phủ, để an ủi linh hồn của những người đã khuất.
Ba ngày sau, thánh chỉ được ban xuống.
Ôn Chiếu, Tề Tuyên cùng những người khác được luận công ban thưởng, Ôn Chiếu được thăng chức lên Đại Lý Tự Thừa*, Tề Tuyên được thăng chức Lang trung của Hộ bộ, mỗi người còn được ban thưởng thêm một trăm lượng vàng.
(*)Chức “Đại Lý Tự Thừa” (大理寺丞) là chức quan phó trong Đại Lý Tự – cơ quan phụ trách xét xử, phán quyết các vụ án lớn của triều đình thời xưa, tương đương với cơ quan tư pháp ngày nay. Chức Thừa là cấp bậc phó giúp việc cho Đại Lý Tự Khanh (quan đứng đầu Đại Lý Tự).
Cuối thánh chỉ còn có thêm một dòng chữ.
“Cả gia tộc Ôn Nham nhiều năm chịu oan, con trai chịu khổ mà vẫn chí vững tâm bền, lập công lớn diệt trừ phản nghịch cho trẫm. Nghĩa tỷ của Ôn Chiếu là Mạnh Thu, nàng trung nghĩa đáng khâm phục, xứng đáng là tấm gương thiện đức cho đời. Nay chuẩn cho Ôn Chiếu được khôi phục họ cũ, ban tước ‘Đức Thiện Quân’ cho Mạnh Thu, được hưởng bổng lộc và đất phong như Hương quân.”
Gì chứ? Sao không thưởng vàng ta?
Dưới ánh mắt đầy uy h.i.ế.p của ta, cả hai nhanh chóng tuyên bố số tiền thưởng đều dâng hết cho ta.
Hừ, thế còn tạm chấp nhận.
Về sau ta cũng biết, quan đại thần Hồ Chính, người đã hy sinh trong yến tiệc đêm Giao thừa, được truy phong làm Anh Quốc công, tước vị sẽ do con trai ông kế thừa.
Qua năm mới, chúng ta trở về Vân Châu, một là để đưa bài vị của Ôn phủ về quê cũ ở huyện Chiếu Thủy, hai là để tìm lại ông lão ăn mày và cậu bé ăn mày năm xưa.
Ông lão đã qua đời, cậu bé giờ đã lớn, đang làm tiểu nhị cho một quán trọ và cũng chính là người đã chăm lo tang lễ cho ông lão.
Ôn Chiếu hỏi cậu có muốn vào kinh thành không, nhưng cậu đáp rằng muốn ở lại Vân Châu, vì nơi đây còn có người cậu vương vấn.
Cuối cùng, Ôn Chiếu trao cho cậu một khoản bạc, phải thuyết phục mãi cậu mới chịu nhận.
Ngày rời huyện Chiếu Thủy, ta mua rất nhiều bánh hoa mai và kẹo hoa quế.
Thật tốt, hương vị chẳng hề thay đổi.
Trước mộ phần của phụ mẫu tại Mạnh gia thôn, ta kính cẩn báo cáo chuyện hôn sự. Ôn Chiếu và Tề Tuyên cùng quỳ bên cạnh, dập đầu trước phụ mẫu ta.
Đầu xuân tháng ba, ta cùng Tề Tuyên chính thức thành hôn.
Song thân của chàng đã đến kinh thành dự lễ cưới, mẫu thân chàng nắm tay ta, ánh mắt hiền từ, dịu dàng đeo vào tay ta một chiếc vòng ngọc trong suốt: “Quả là một cô nương tốt, không uổng công con trai ta chờ đợi bao năm.”
Đêm tân hôn, dưới ánh nến đỏ lung linh, Tề Tuyên vén khăn che mặt của ta lên. Sau khi uống rượu giao bôi, chàng từ từ tiến lại gần, ta xấu hổ đỏ mặt, nhắm mắt lại. Nào ngờ chàng lại hỏi: “Nương tử, ta rất tò mò, hồi nhỏ nàng có bao giờ đánh Ôn Chiếu không?”
Ta chỉ biết đen mặt.
Chàng nhanh chóng bày tỏ bức xúc: “Ta là tỷ phu của nó, tối nay nó không giúp ta cản rượu thì thôi, còn tìm đủ lý do chuốc rượu ta, nàng nói xem có ai làm em vợ như vậy không!”
“…”
Những tháng trước ta còn thấy chàng điềm đạm, nói năng chững chạc, trưởng thành hẳn lên…
Ta lườm chàng một cái: “Thế rốt cuộc chàng uống chưa?”
Tề Tuyên thật thà gật đầu: “Rượu đến thì ta đều uống.”
Thôi đành vậy. Ta toan đứng dậy: “Vậy đêm nay chàng cứ nghỉ ngơi cho tốt, ta đi…”
Còn chưa kịp nói hết, chàng đã kéo ta vào lòng, hơi thở ấm áp phả bên tai, thì thầm: “Thằng nhóc Ôn Chiếu chưa hiểu rõ về khả năng của tỷ phu mình rồi.”
Rèm đỏ nhẹ đung đưa, đừng để phụ cảnh xuân tươi đẹp này.
Sau lễ cưới, cha mẹ chồng từ chối lời mời ở lại kinh thành, nhất quyết muốn về quê.
Hai người cười bảo: “Đôi phu thê trẻ mới cưới này, chúng ta già rồi, cũng nên trở về tổ ấm của mình thôi.”
Tề Tuyên đứng cạnh bên giơ tay, như muốn nói rằng, chàng đã bảo ta trước rồi mà ta không tin.
Sau hôn lễ, với hai trăm lượng vàng và toàn bộ tài sản của Tề Tuyên, ta trở thành một phu nhân thực thụ. Mỗi ngày cùng các phu nhân thân thiết đi xem kịch, thưởng hoa, mua phấn son và y phục; hễ có tiệc xuân, tiệc tuyết mùa đông là ta chẳng bao giờ vắng mặt, việc quen thuộc nhất là vừa ăn hạt dưa vừa nghe các phu nhân bàn chuyện thiên hạ.
Mỗi lần nghe xong, ta lại về nhà kể cho Tề Tuyên, chàng cũng rất thích nghe, còn thúc giục ta tìm hiểu thêm vài chuyện nữa.
Thật là, ta là người như vậy sao?
Trong Tề phủ cũng có cây hoa quế, mỗi chiều, ta lại ngồi dưới gốc cây dạy đám nha hoàn nhỏ tập làm thơ, viết chữ.
Dù không biết nhiều, ta thường phải hỏi Tề Tuyên. Chàng ấy đôi khi cũng tỏ ra hơi nhỏ mọn.
“Lúc nào nàng cũng ở cùng họ, còn ta cả ngày bận đến bốn canh giờ ở bên ngoài, về nhà mà nàng chẳng bầu bạn với ta nhiều hơn.”
Ta vội an ủi: “Tề đại nhân là trụ cột của gia đình chúng ta, tấm lòng rộng mở, khí chất cao vời, sao lại so đo mấy chuyện nhỏ nhặt này.”
Chàng hừ hừ vài tiếng rồi cũng nhượng bộ: “Thế… nàng dạy xong thì nhớ về sớm một chút.”
Còn về Ôn Chiếu, dạo này cậu rất bận.
Không phải bận công vụ, mà là bận vì bị một tiểu thư nhà Cố Thái phó quấn quýt theo đuổi.
Ta từng gặp cô bé, dáng vẻ duyên dáng, xinh xắn, thông minh và nhân hậu, chắc chắn Ôn Chiếu cũng có cảm tình.
Tề Tuyên nói, Cố Thái phó được Hoàng thượng trọng dụng, ông có nhiều môn sinh trong triều và cũng rất quý mến Ôn Chiếu, có ý muốn tác hợp cho hai người.
Xem ra chuyện vui của cậu nhóc này cũng sắp thành rồi.
Thoắt cái, ba năm nữa lại trôi qua.
Đêm Giao thừa, chúng ta quây quần ở phủ ăn lẩu, đón giao thừa.
Con trai ta – Tề Việt vừa biết đi, có vẻ rất hào hứng, hễ thấy ai cũng líu lo không ngừng.
Nhất là cậu bé rất thích tiểu cữu cữu của mình, cứ thấy Ôn Chiếu là đưa tay đòi bế.
Tề Tuyên nhìn con trai chạy về phía người khác mà lòng thấy tủi thân, chàng ấm ức quay sang phàn nàn với ta: “Sao lại thế này?”
Cho đến khi Tề Việt lại lao vào lòng Cố Tri Nhân, ta mới tìm được lý do để an ủi Tề Tuyên.
“Nhìn xem, so với A Chiếu, thằng bé còn thích Nhân Nhân hơn đấy.”
Tề Việt cười khúc khích trong lòng Cố Tri Nhân, đôi mắt híp lại thành hai vầng trăng lưỡi liềm, chẳng thèm nhìn cữu cữu của nó lấy một lần.
Tề Tuyên lập tức thấy cân bằng hơn hẳn, không còn bận tâm việc con trai thích cữu cữu hay phụ thân nó.
“Tẩu tẩu, em bé thật đáng yêu.”
Cố Tri Nhân đôi mắt long lanh, cứ chơi đùa mãi với Tề Việt, chẳng thấy mệt chút nào.
Ta cười trêu: “Hai người kết hôn cũng một năm rồi, cũng mau sinh một đứa đi chứ.”
Ôn Chiếu ho nhẹ hai tiếng: “Nhân Nhân còn nhỏ, chờ thêm hai năm nữa.”
Cố Tri Nhân đỏ bừng mặt, im lặng không đáp, trông vô cùng thân thiết với nhau.
Tề Tuyên ghé vào tai ta thì thầm: “Ôn Chiếu chắc là sợ đứa bé sau này cũng bám lấy thê tử ngày đêm giống như Tề Việt…”
Ta lườm chàng một cái, chàng tự giác ngậm miệng.
Đêm dần về khuya, Tề Việt đã được nhũ mẫu đưa về ngủ.
Đúng giờ Tý, tiếng chuông từ chùa Hộ Quốc vang vọng, pháo hoa rực rỡ muôn màu nở bung trên bầu trời. Bốn người chúng ta ngồi giữa sân viện, cùng nâng chén, chào đón mùa xuân mới.
Chỉ mong được mãi như thế, xuân về hoa nở, năm tháng an lành.
Hết.