Năm ta tròn mười tuổi, huynh trưởng vì mê cờ bạc đến mất trí, đem ta bán vào thanh lâu để trừ nợ.
May mắn thay, khi ấy có một vị lão gia đi ngang qua, lòng dạ nhân hậu, liền bỏ bạc mua ta về, nói là để làm nha hoàn hầu hạ tiểu thư trong phủ.
Đó cũng là lần đầu tiên trong đời ta được ăn no, mặc ấm. Tiểu thư còn dạy ta biết chữ.
Trước ngày tiểu thư xuất giá, huynh trưởng ta vì thiếu nợ mà bị người ta đ/á//nh đến ch//ế/t, ta buộc phải quay về quê lo tang sự.
Tiểu thư nhét vào tay ta hai tấm ngân phiếu, dặn dò: “Lúc quay lại nhớ mang nhiều bánh hoa mai của huyện Chiếu Thủy nhé, ta đã lâu chưa được ăn. Mang nhiều một chút, chia cho các tỷ muội trong viện.”
Lo xong mọi việc, ta vội vàng mua bánh rồi lên đường, chỉ mong kịp trở về trước lễ thành thân của tiểu thư vài ngày.
Không ngờ, khi ta quay về, chỉ kịp nhìn thấy lão gia và phu nhân lần cuối.
Ta sinh vào tiết Mạnh Thu*, trùng hợp lại mang họ Mạnh, vậy nên được đặt tên là Mạnh Thu.
(*)”Mạnh Thu” là giai đoạn đầu mùa thu trong lịch cổ Trung Quốc, khoảng tháng 7 âm lịch, khi tiết trời bắt đầu mát mẻ và mùa thu dần rõ nét.
Năm ta mười tuổi, huynh trưởng nghiện cờ b.ạ.c muốn bán ta vào thanh lâu để trả nợ. Hắn lừa rằng đã kiếm được tiền, sẽ dẫn ta đến huyện Chiếu Thủy để may y phục mới.
Chúng ta ngồi xe bò của một vị đại bá nhà láng giềng đi vào thành. Trên đường, huynh trưởng vui mừng quá đỗi, vô ý để lộ âm mưu. Đến cổng thành, dù hắn có đánh chửi thế nào, ta cũng nhất quyết không chịu đi. Thà đập đầu tại chỗ mà c.h.ế.t, ta cũng không muốn bước vào thanh lâu.
Đúng lúc đó, một vị phú thương vừa nhân hậu vừa giàu sang của huyện đi ngang qua, thấy cảnh tượng ấy, liền ngỏ ý mua ta về làm nha hoàn, trả bạc còn cao hơn thanh lâu đôi chút.
Huynh trưởng thấy có thể kiếm thêm được ít tiền, lập tức đồng ý. Dù ta không muốn, nhưng nghĩ đến tính tình của hắn, hôm nay không bán được thì ngày mai cũng sẽ bán, chẳng khác biệt là bao. Vị phú thương này vẻ ngoài đoan chính, có lẽ là người tốt.
Phú thương ấy tên là Ôn Nham, quả thực là một người lương thiện. Về đến phủ, ông liền đưa ta đến hầu hạ trong phòng tiểu thư, thậm chí còn không bắt ta ký khế ước bán thân.
Tiểu thư tên là Ôn Hi, dung mạo thanh tú đoan trang, đối xử với nô tài rất tử tế, khiến nha hoàn trong viện ai nấy đều hòa thuận vui vẻ.
Vào mỗi buổi chiều tà, tiểu thư thường ngồi dưới tán cây quế, dạy chúng ta – những nha hoàn nhỏ tuổi – học chữ, ngâm thơ.
Gần đây, tiểu thư vừa có thêm một đệ đệ. Nàng vui mừng khôn xiết, mỗi ngày đều dẫn chúng ta đến phòng phu nhân thăm tiểu công tử. Cậu bé trắng trẻo, bụ bẫm, tựa như một nắm xôi trắng tròn, thật đáng yêu và vui mắt.
Ta chưa từng thấy mình hạnh phúc đến vậy, được ăn no, mặc ấm, lại còn được học chữ. Ngày qua ngày đều vui vẻ, đến mức ta có chút cảm kích huynh trưởng. Nếu hôm ấy hắn không bán ta, có lẽ ta chẳng thể nào đến được nơi này.
Năm năm sau, việc kinh doanh của Ôn lão gia ngày càng phát đạt, cả gia đình chuyển đến Vân Châu – Giang Nam.
Phủ đệ ở Vân Châu rộng lớn gấp nhiều lần so với ở Chiếu Thủy. Người ra vào trong phủ không chỉ có thương nhân mà còn có cả quan viên. Nghe nói, lão gia kết giao được với người của Triệu Quận vương, khiến các quan lại ở Vân Châu đều mong muốn kết thân.
Hôn sự của tiểu thư cũng đã định, là với công tử nhà Trường Sử Vân Châu. Hai người từng hòa nhạc cùng nhau qua bức bình phong, trò chuyện vô cùng hòa hợp. Sau khi về phủ, tiểu thư thẹn thùng nói: “Hà công tử dung mạo tuấn tú, lễ độ nhã nhặn, quả là một bậc quân tử.”
Thân phận là con gái thương gia nhưng lại được gả vào nhà quan, quả là một hôn sự đáng mơ ước. Cả phủ đều phấn khởi vui mừng. Tiểu thư cũng rất vui, tự tay thêu áo cưới, còn nói khi xuất giá sẽ dẫn theo chúng ta.
Vài người nha hoàn chúng ta đều đã hứa rằng sau này sẽ không ai lấy chồng, cứ thế mà hầu hạ tiểu thư, rồi sau này khi tiểu thư có tiểu công tử hay tiểu cô nương, chúng ta sẽ hầu hạ các vị ấy. Nói chung là cả đời sẽ sống cùng nhau không xa rời.
Mười ngày trước lễ thành hôn của tiểu thư, ta nhận được thư từ trưởng thôn, ông ta nhờ người gửi đến, nói rằng huynh trưởng của ta vì nợ nần quá nhiều, không trả nổi, nên đã bị người ta đánh c.h.ế.t, khi tìm thấy thì t.h.i t.h.ể đã bốc mùi.
Trong thư, trưởng thôn còn bảo rằng, ta là thân nhân duy nhất của huynh trưởng, tang sự cần phải do ta chủ trì. Ban đầu, ta không định quay lại, chỉ muốn gửi ít bạc để nhờ trưởng thôn lo liệu là xong, nhưng cuối cùng vẫn không thể lạnh lòng bỏ mặc.
Khi tiểu thư biết chuyện, nàng kiên quyết đưa ta hai tấm ngân phiếu: “Ngươi nhớ thuê cỗ xe thật thoải mái, nghỉ lại ở quán trọ cũng phải chọn nơi tử tế. Bánh hoa mai và kẹo hoa quế của huyện Chiếu Thủy rất ngon, lâu rồi ta không được ăn, ngươi mua nhiều một chút, mang về chia cho các tỷ muội trong viện.”
Nhận ngân phiếu, ta vẫn không nỡ thuê cỗ xe tốt, chỉ theo cùng một đoàn thương nhân bình thường trở về Chiếu Thủy. Mấy năm nay ở Ôn phủ, ta cũng có để dành được một khoản, nhưng đám tang của huynh trưởng ta làm rất đơn giản, mộ phần của hắn ta cũng đặt cách xa mộ phần của phụ mẫu, vì khi còn sống hắn đã phá hoại sản nghiệp gia đình, c.h.ế.t rồi cũng không đáng tốn thêm, lại càng không xứng được chôn gần phụ mẫu.
Sau khi lo liệu xong, ta mua bánh kẹo ngay và lập tức lên đường trở về Vân Châu, ước tính sẽ về kịp trước lễ thành hôn của tiểu thư hai ngày.
Nào ngờ, về đến nơi, ta chỉ kịp nhìn lão gia và phu nhân lần cuối cùng.
Ôn lão gia bị tình nghi buôn bán muối lậu, cả nhà bị giam vào ngục, ngay trong ngày ta trở lại Vân Châu. Đúng giờ Ngọ hôm ấy, họ bị đem ra pháp trường hành quyết.
Khi đi ngang qua phố chợ, ta tình cờ chứng kiến cảnh tượng ấy, những chiếc bánh trong tay rơi xuống, bị đám đông giẫm đạp nát vụn. Ta như kẻ điên dại, chen chúc lao tới, nước mắt nhạt nhòa che lấp cả gương mặt, cổ họng nghẹn đắng đến mức chẳng thốt nổi một lời.
Lão gia dường như nhận ra ta giữa dòng người, ánh mắt ra hiệu cho ta mau rời đi. Ông, người từng phong nhã đường hoàng, nay khoác chiếc áo tù dơ bẩn, quỳ trên mặt đất, khuôn mặt nhếch nhác, đôi mắt đỏ ngầu đầy tơ máu. Đôi môi khô nứt của ông mấp máy như muốn nói điều gì.
Nhưng thời gian không đợi, lưỡi đao của đao phủ vung lên, rồi hạ xuống, hai chiếc đầu lăn ra đất.
Tim ta như bị xé toạc, trời đất dường như sụp đổ, đến khóc cũng chẳng khóc nổi. Đao phủ rửa m.á.u trên nền đất, dân chúng cũng dần tản đi.
Mãi lâu sau ta mới lấy lại thần trí, đồng thời chợt hiểu rằng lão gia đã gọi tên “Ôn Chiếu” và “Ôn Hi,” liền vội vàng chạy về phủ tìm tiểu thư và công tử.
Ôn phủ giờ đã không còn, tấm biển ghi hai chữ “Ôn phủ” nằm lăn lóc dưới đất, cửa lớn đỏ chói bị niêm phong.
Ta đi đến cửa sau của Ôn phủ. Con ngõ này trước kia thường có mấy đứa ăn mày chờ cơm thừa canh cặn do Ôn phủ mang ra, giờ đây lại trống không.
Đang ngẩn người, ta chợt cảm thấy có ai kéo áo. Một đứa ăn mày nhỏ nhìn ta nói: “Tỷ tỷ là nha hoàn trong phủ này phải không?”
Ta lập tức ngồi xuống, lấy từ trong gói hành lý ra một chiếc bánh đưa cho nó: “Rốt cuộc Ôn phủ đã xảy ra chuyện gì? Người trong phủ giờ ở đâu?”
Thằng bé nhận bánh, chưa vội ăn mà đáp: “Ôn lão gia buôn muối lậu, phủ bị khám xét tịch biên, ông ấy và Ôn phu nhân hôm nay đều đã bị hành quyết rồi.”
“Vậy còn Ôn tiểu thư và các hạ nhân trong phủ? Còn Ôn tiểu công tử, đứa bé cỡ tuổi ngươi đâu rồi?”
“Tiểu thư và mọi người trong phủ đều bị đưa đi cả rồi, lúc đó nhiều người quá, ta không chú ý xem có tiểu công tử hay không, có thể cậu ấy cũng ở trong đó, cũng có thể không.”
Thằng bé lại hỏi: “Tỷ tỷ, tỷ có thể cho ta thêm một cái bánh không? Từ lúc Ôn phủ bị tịch thu, ta đã mấy ngày không được ăn rồi.”
Ta đưa hết những chiếc bánh còn lại cho nó, nghĩ ngợi, rồi đưa thêm vài đồng tiền. Nhớ lại cảnh ngày xưa nơi đây ấm áp vui vẻ, ta lại không cầm được nước mắt: “Cầm lấy đi, tìm một nhà tốt bụng khác mà đến xin.”
Thằng bé chớp chớp mắt, cầm bánh và tiền, rồi quay lưng chạy mất.
Ta lại bỏ tiền thuê người dò hỏi tình hình trong ngục, biết rằng tất cả những người trong đó đều bị ban rượu độc, còn phủ Trường Sử thì đã lập tức từ hôn ngay khi Ôn gia gặp nạn.
Ta tin chắc chắn lão gia tuyệt đối không buôn muối lậu, chắc chắn ông bị người khác hãm hại. Những năm qua theo tiểu thư học chữ, ta mơ hồ đoán rằng chuyện này có liên quan đến Triệu Quận vương.
Từ giờ Ngọ đến giờ Tuất, ta đã nghĩ ra không biết bao nhiêu cách để báo thù, nhưng cuối cùng đều tự mình gạt bỏ.
Nhưng ta không cam lòng. Lão gia và phu nhân là những người lương thiện nhất trên đời, các hạ nhân trong phủ đều thật thà tử tế, bọn họ không đáng phải chịu kết cục như thế. Nếu ông trời đã không công bằng, ta thề dùng chính m.á.u thịt của mình để giành lại công lý, dù có phải trả giá bằng cả mạng sống.
Ta quyết định sẽ tìm tiểu công tử thêm vài ngày nữa, nếu vẫn không tìm được, ta sẽ đến kinh thành nghĩ cách, dù phải liều mình kêu oan trước Hoàng thượng, cũng phải phơi bày tội ác của những kẻ đó ra cho thiên hạ biết!
Đêm dần buông, ta ngồi ngơ ngẩn tại quán trà nơi đầu hẻm, mắt hướng về phía Ôn phủ. Đột nhiên, đứa bé ăn mày ban ngày lại đến tìm ta: “Tỷ tỷ, đi theo đệ.”
Ta có chút ngạc nhiên nhưng vẫn cảm thấy nên đi xem thử. Nó đưa ta đến một góc khuất, nhấc chiếc nón rách trên lồng che đi một khuôn mặt nhỏ nhem nhuốc, nhưng đôi mắt lại trong sáng, lặng lẽ nhìn ta không rời.
Dưới ánh trăng, ta nhận ra, đó chính là tiểu công tử!
Một lão ăn mày từ bóng tối bước ra, đưa tiểu công tử vào tay ta, thở dài một tiếng.
“Chúng ta đã nhận ân đức của Ôn phủ, sao có thể trơ mắt nhìn cậu bé vào chỗ chết.”
“Ta thấy ngươi là người tốt, lại có tình nghĩa với Ôn phủ, để tiểu công tử đi theo ngươi còn hơn là để cậu ấy làm kẻ ăn mày.”