Chương 2

“Giờ Ôn lão gia và Ôn phu nhân phủ đều đã mất, chỉ để lại mỗi cậu bé này, coi như Ôn gia còn có người nối dõi.”

 

Lão ăn mày cúi chào sâu, lời nói ẩn chứa nỗi niềm sâu sắc: “Xin gửi gắm tiểu công tử lại cho cô nương, nhờ cô nương chăm sóc. Cô nương cũng hãy bảo trọng, chờ đợi ngày sau.”

 

Lời của ông ấy làm ta bừng tỉnh, ta gật đầu nghiêm túc.

 

Đúng vậy, ta không thể hành động nông nổi, ta phải chăm sóc tốt cho tiểu công tử để chờ ngày sau.

 

Tiểu công tử ngoan ngoãn nằm trong vòng tay ta, không khóc cũng không làm loạn. Ta không dám lau sạch mặt cho cậu, chỉ dùng khăn chấm nhẹ lên đôi mắt và đôi tay, mong sao dễ chịu hơn.

 

Ta định ở lại thu xếp tang sự cho Ôn phủ rồi mới đi, nhưng lão ăn mày khuyên ta nên rời đi sớm, vì tiểu công tử không thể chịu được sự dò xét. Ông sẽ thay ta lo liệu chuyện hậu sự.

 

Ta đưa cho ông một thỏi bạc, nhờ ông dù không thể chôn cất người trong Ôn phủ chu toàn, ít nhất cũng lo được nơi yên nghỉ và quan tài tươm tất.

 

Sáng hôm sau, ta bế tiểu công tử lên xe ngựa rời khỏi thành, đến Hoa Tuyền – một huyện nằm ở phía bắc Giang Nam.

 

Ta từng nghe lão gia nhắc về nơi này, bảo rằng nơi đây người dân chất phác, địa linh nhân kiệt*.

 

(*)“Địa linh nhân kiệt” (地靈人傑) là một thành ngữ có ý nghĩa ca ngợi vùng đất có khí chất tốt lành, nuôi dưỡng nên những con người tài giỏi, xuất chúng.

 

Trên đường đi, tiểu công tử không nói lời nào, ta cũng chẳng biết phải nói gì với cậu bé. Mãi cho đến khi ta thuê được một căn nhà nhỏ, dọn dẹp sạch sẽ rồi vào bếp nấu cháo, cậu bé mới uống một ngụm, rồi hỏi: “Mạnh Thu tỷ tỷ, phải chăng Ôn phủ đã không còn?”

 

Ta siết chặt vạt áo, khẽ gật đầu.

 

“Vậy còn phụ mẫu, còn tỷ tỷ của ta, tất cả họ đã mất rồi sao?”

 

Ta lại gật đầu, cảm thấy bản thân như đang làm một điều nhẫn tâm nhất trên đời.

 

Tiểu công tử mím chặt môi, đôi mắt đã đỏ hoe, lồng n.g.ự.c nhỏ không ngừng phập phồng.

 

Ta nhẹ nhàng vỗ vai cậu, dịu dàng nói: “Muốn khóc thì cứ khóc đi, khóc rồi sẽ nhẹ lòng hơn.”

 

Cuối cùng, cậu bé không kiềm nén nữa, gục xuống bàn mà khóc nức nở, tiếng khóc thấu tâm can.

 

“Sau này… ta sẽ là tỷ tỷ của đệ.”

 

“Vì để minh oan cho Ôn phủ, chúng ta phải sống tốt, sống để chờ ngày kẻ ác nhận báo ứng.”

 

Dù chưa tròn sáu tuổi, theo lẽ thường thì khó mà hiểu hết lời ta nói, nhưng sau cơn hoạn nạn này, cậu bé đã không còn ngây thơ như bao đứa trẻ khác nữa.

 

Trước khi ta quay về huyện Chiếu Thủy, tiểu thư đã đưa ta hai tấm ngân phiếu, tổng cộng là một trăm lượng bạc. Với nhà giàu thì chẳng đáng kể, nhưng với dân thường thì đây là số tiền lớn.

 

Trừ chi phí đi lại giữa huyện Chiếu Thủy và từ Vân Châu đến Hoa Tuyền, ta còn lại tám mươi bảy lượng hai trăm văn tiền. Để an toàn, ta chọn sống ở hẻm Bách Phúc, gần nơi ở của quan phủ, mỗi tháng tốn hai trăm văn tiền thuê nhà. Dù đắt hơn một chút, nhưng ở đây, bọn lưu manh thường không dám đến quấy nhiễu, lại gần thư viện.

 

Ta còn tìm cho tiểu công tử – giờ nên gọi là Mạnh Chiếu – một thư viện tốt nhất, học phí mỗi tháng là một trăm văn tiền.

 

Cộng thêm chi phí ăn uống, quần áo, bút mực giấy nghiên, mỗi tháng cần khoảng sáu trăm văn tiền. Nhưng như vậy là tốn nhiều quá, ta cắt giảm phần của mình, tính lại còn năm trăm văn tiền mỗi tháng là vừa.

 

Một trăm lượng bạc đủ để chúng ta sống mười lăm năm. Nhưng vẫn chưa đủ, bởi sau này, khi Mạnh Chiếu trưởng thành, ngoài khoa cử, còn nhiều việc quan trọng cần đến tiền. Ta ở nhà không làm gì cũng chẳng ổn, vậy nên quyết định ra ngoài kiếm thêm chút đỉnh.

 

Suy đi tính lại, ta dự định mở một tiệm mì.

 

Ngày trước, phụ mẫu ta cũng có một tiệm mì nhỏ ở chợ quê. Từ khâu nhào bột đến nấu nước dùng đều có bí quyết riêng, mì nhà ta vừa ngon lại vừa nhiều, nhờ vậy mà buôn bán khấm khá, tích cóp được chút ít của cải. Nhưng kể từ khi huynh trưởng mê cờ bạc, gia sản bị tiêu tán trong vài ngày ngắn ngủi, phụ mẫu vì đau lòng mà qua đời.

 

Ta mới bốn tuổi đã biết phụ giúp trong tiệm mì, về sau vào Ôn phủ, cũng thường làm mì cho tiểu thư và các tỷ muội cùng ăn.

 

Chiều hôm ấy, ta dạo một vòng quanh phố, thấy một cửa tiệm nằm đối diện với thư viện đang cho thuê, mỗi tháng một lượng bạc, bàn ghế bếp núc có đủ, ta chỉ cần lo nguyên liệu.

 

Còn một tiệm khác ở gần cầu Thiên Kiều, phía đông thành, nơi đây người qua lại tấp nập, thuê mỗi tháng chỉ sáu trăm văn tiền. Nhưng tiệm nhỏ và sơ sài, cần phải bỏ thêm gần một lượng bạc để sắm sửa.

 

Cuối cùng, ta quyết định chọn tiệm đối diện thư viện. Suy tính kỹ lưỡng, nơi này mỗi ngày có đông học trò qua lại, dù xung quanh có không ít quán ăn, nhưng chưa có quán nào chuyên bán mì. Quan trọng hơn, ta có thể đưa đón Mạnh Chiếu mỗi ngày.

 

Giá một bát mì dương xuân ở huyện Hoa Tuyền là ba văn tiền, thêm nước dùng là bốn văn. Nếu mỗi ngày bán được năm mươi bát, mỗi tháng có thể lãi một lượng ba trăm văn tiền.

 

Như vậy, không chỉ đủ trang trải hàng tháng, mà còn để dành được ít nhiều. Dù không nhiều nhưng tích cóp mười năm cũng được ba trăm lượng bạc.

 

Nhờ sống trong thời bình, quan huyện ở đây lại công minh chính trực, cuộc sống mưu sinh cũng không quá khó khăn.

 

Ta dự định nộp tiền thuê trước ba tháng, cộng thêm tiền cọc là bốn lượng bạc. Nếu buôn bán ổn thì tiếp tục, không ổn thì kịp dừng lại tìm đường khác, dù sao thì “cây đổi chỗ thì chết, người đổi chỗ thì sống.”

 

Lần đầu làm ăn, để tránh lo nghĩ mãi không dám bước, ta hít một hơi thật sâu, lập tức ký khế ước, nộp tiền thuê tiệm.

 

Khi đón Mạnh Chiếu tan học, ta vui mừng báo với cậu rằng ta sắp mở tiệm mì đối diện thư viện.

 

“Ừm, mì của A tỷ nấu rất ngon.”

 

Rõ ràng mới sáu tuổi, mà sao lại trầm tĩnh như người lớn như vậy.

 

Ta nảy ý muốn trêu chọc: “A Chiếu, tỷ mở tiệm mì ngay đối diện thư viện, đồng môn của đệ biết, đệ có thấy xấu hổ không?”

 

Mạnh Chiếu thẳng lưng, ngước nhìn ta, nghiêm trang nói: “A tỷ sao lại nói vậy, tự mình mưu sinh bằng đôi bàn tay, chính trực đường hoàng, cớ gì phải xấu hổ?”

 

Gương mặt cậu còn non nớt, giọng nói còn mang âm vực của trẻ con, nhưng lời nói lại khiến ta tin tưởng rằng Ôn phủ chưa thực sự sụp đổ, vì cậu chính là hy vọng của Ôn phủ.

 

Sáng sớm hôm sau, ta xách thùng nước, cầm chổi và vài mảnh vải, quét dọn kỹ lưỡng quán nhỏ của mình, đặc biệt là khu bếp và chỗ nhào bột, nhất định phải sáng bóng mới chịu dừng.

 

Chỗ này tuy không lớn, nhưng có đủ bốn bàn, có thể cùng lúc phục vụ mười sáu người. Nếu chuẩn bị sẵn nguyên liệu, ta hoàn toàn có thể xoay xở được.

 

Có người đi ngang qua, tò mò nhìn ta đang bận rộn: “Cô nương, quán này sắp bán gì thế?”

 

Ta ngẩng lên cười, đáp: “Quán mì đấy, mai khai trương, mong mọi người ghé qua ủng hộ.”

 

Mấy người làm của các quán ăn xung quanh cũng nhìn qua, nghe nói là quán mì liền quay đi.

 

Sau khi chuẩn bị các vật dụng lặt vặt cho quán xong, cũng đã sang chiều, mọi thứ đâu vào đấy. Trong lúc chờ Mạnh Chiếu tan học, ta nảy ý mang thịt heo, bột mì và vài loại gia vị từ nhà, mở cửa quán, đun nước, nhào bột và bắt đầu cán mì.

 

Đến khi học trò lục đục tan học, ta vừa xào nước dùng, hành gừng trong chảo dậy mùi thơm, thêm nấm hương và thịt băm, rồi đổ nước sốt do ta tự pha chế, hương vị đậm đà, rất nhanh đã có học trò ngửi thấy mùi thơm mà đứng trước cửa tiệm.

 

“Cô nương chưa treo biển, đây là quán mì đúng không?”

 

Ta vui vẻ đáp: “Phải đấy, mai quán khai trương, mong công tử ghé dùng thử.”

 

Nói rồi, ta múc nước dùng đổ lên tô mì vừa chín, thêm mấy cọng rau xanh vừa trụng và quả trứng trắng mịn cắt đôi, nhìn vô cùng bắt mắt.

 

Cậu học trò thoáng vẻ tiếc nuối: “Ta cứ nghĩ hôm nay đã có thể nếm thử.”

 

“Vậy mời công tử mai ghé qua, ta mời một tô miễn phí, nếu hài lòng, xin công tử nói tốt giúp ta trong thư viện.”

 

Cậu ta cười sảng khoái: “Được, mai ta nhất định đến.”

 

Lúc này, Mạnh Chiếu đã ra, thấy ta ở trong quán, liền bước thẳng vào.

 

“A tỷ, hôm nay khai trương à?”

 

Ta bê bát mì lên bàn, gọi cậu ngồi xuống ăn: “Chưa đâu, ta còn phải nghĩ tên cho quán, bảng hiệu cũng không cần cầu kỳ, một lát nữa ta sẽ tìm sách, tự tay viết vài chữ dựng trước cửa, mai chính thức mở quán.”

 

Mạnh Chiếu vừa ăn vừa giúp ta nghĩ tên: “A tỷ, lấy tên của tỷ đặt luôn đi, gọi là Quán Mì Mạnh Thu.”

 

Quán Mì Mạnh Thu? Nghe cũng hay, vừa là tên của mùa thu, lại mở ngay trước thư viện, cũng có chút thanh nhã.

 

Tối đó, khi Mạnh Chiếu ngồi đọc sách trong phòng, ta bận rộn chuẩn bị nguyên liệu cho ngày hôm sau trong bếp.

 

Thịt thì vẫn nên mua tươi trong ngày, còn các nguyên liệu khác có thể chuẩn bị trước. Buổi tối, ta xử lý sẵn mọi thứ để tránh lúc bận rộn lại rối tay chân.

 

Chương này đã bị khoá. Bạn vui lòng ấn vào Popup để mở khoá nội dung. Lỡ ấn x thì mọi người loading lại web là hiện popup.

Chương trước Chương sau