Cha tôi vốn là một vị đại thiện nhân khét tiếng trong trấn.
Cứ đều đặn mười năm một lần, ông lại nhận nuôi một bé gái mồ côi, hết lòng chăm sóc như con đẻ rồi sau đó chọn cho họ một mối hôn sự t.ử tế để gả đi xa.
Thế nhưng, chị gái nuôi của tôi, người đã lấy chồng xa nhiều năm nay, dạo gần đây lại thường xuyên hiện về trong những giấc mơ của tôi.
Trong mơ, chị mặc một bộ hỷ phục đỏ thắm rực rỡ, nhưng từ khóe mắt lại lăn dài những hàng huyết lệ đầy thê lương.
Điều đó khiến tôi cảm thấy vô cùng kỳ quặc.
Tôi chợt nhận ra một sự thật đáng sợ: Tại sao tất cả những người con gái nuôi từng đi lấy chồng ấy, chưa một ai từng quay trở về thăm nhà dù chỉ một lần?
Đó là những năm đầu của thời kỳ Dân Quốc.
Trong khi thế giới bên ngoài đang trải qua những biến động nghiêng trời lệch đất, thì trấn Thanh Mộc vẫn vẹn nguyên vẻ mộc mạc và cổ kính như thuở nào.
Nhà họ Tống chúng tôi vốn là hộ giàu có nhất vùng, bởi vậy cha tôi luôn nhận được sự kính trọng từ khắp lượt dân làng.
Dạo gần đây, có một gã điên từng làm thuê cho nhà tôi cứ đi rêu rao khắp trấn rằng nhà họ Tống đã bị ma ám. Gã khẳng định nửa đêm thường nghe thấy tiếng quỷ khóc nỉ non và cho rằng bên trong Phật đường đang che giấu những bí mật mờ ám không thể tiết lộ.
Thế nhưng chẳng bao lâu sau, gã lại được tìm thấy khi đã c.h.ế.t đuối dưới sông trong một tình trạng vô cùng thê t.h.ả.m. Người trong trấn xầm xì bảo nhau rằng, đó là cái giá gã phải trả vì đã dám đắc tội với thần linh.
Ban đầu, tôi vẫn ngỡ đó chỉ là những lời đồn thổi vô căn cứ, cho đến một đêm trăng tròn nọ. Khi tình cờ đi ngang qua Phật đường, tôi thực sự nghe thấy những tiếng khóc thút thít văng vẳng vọng ra – một âm thanh nức nở đầy oán hận của phụ nữ khiến tôi không khỏi rợn tóc gáy.
Tôi đem nỗi thấp thỏm bất an ấy đi hỏi cha về sự lạ ở Phật đường, nhưng ông ấy chỉ sa sầm mặt mũi rồi nghiêm nghị đáp: “Á Nam, chắc chắn là con đã nghe nhầm rồi.”
Dù ngoài mặt tỏ ra phục tùng nhưng tôi vẫn bán tín bán nghi, bởi trong thâm tâm tôi luôn cảm thấy mọi chuyện đang dần trở nên kỳ quặc.
Ngay đêm hôm đó, tôi lại mơ thấy người chị nuôi năm ấy. Chị đã rời đi nhiều năm, nhưng tuyệt nhiên chưa một lần quay lại mảnh đất nhà họ Tống này.
Tôi là con gái thứ hai của nhà họ Tống. Anh cả tôi vốn là một kẻ khờ, vì trận sốt cao hồi nhỏ mà đầu óc chẳng được minh mẫn như người bình thường.
Tuy vậy, cha vẫn luôn thiên vị anh cả hơn hẳn. Mặc kệ trí óc anh ấy không bình thường, cha đã sớm định sẵn anh ấy sẽ là người thừa kế tương lai của gia tộc.
Còn tôi, dù là phận nữ nhi nhưng chưa từng được cha cho học về nữ công gia chánh; thay vào đó, ông ấy nuôi dạy tôi chẳng khác gì một đứa con trai với hy vọng sau này tôi có thể phò tá cho anh mình.
Ông ấy luôn nhìn tôi với ánh mắt đầy nuối tiếc và không ngừng cảm thán: “Á Nam, giá như con là con trai thì tốt biết mấy.”
Mỗi lúc như vậy, tôi chỉ biết siết c.h.ặ.t hai bàn tay. Có lẽ, chỉ khi nỗ lực gấp bội, tôi mới mong có ngày khiến cha cảm thấy thực sự hài lòng.
Chẳng bao lâu sau, cha mời về cho hai anh em một vị thầy giáo trẻ tuổi với dáng vẻ thư sinh, nho nhã trong chiếc áo dài màu xanh thanh tú.
“Thưa thầy.” Tôi khẽ cất tiếng gọi.
Người nọ hơi mỉm cười, sau đó chủ động bắt tay tôi rồi nói: “Từ nay về sau, cứ gọi tôi là thầy Lăng nhé.”
“Thầy Lăng…” Tôi có chút bối rối, nhất thời chưa kịp phản ứng trước cử chỉ thân mật ấy.
Lăng Tiêu đã mang đến một luồng gió mới cho ngôi nhà này với những món đồ xa lạ như máy hát hay cà phê, đối với tôi, thứ nào cũng đầy sức hút và lạ lẫm. So với những ông giáo già cổ hủ ở trường tư thục thì thầy ấy thú vị hơn nhiều.
Thầy ấy dùng chất giọng ôn tồn để giảng dạy Quốc văn và Tây văn cho hai anh em tôi. Thậm chí ngay cả anh cả cũng biết ưỡn thẳng lưng, ê a đọc theo thầy ấy vài câu tiếng Tây bồi.
Những lúc cha vắng nhà, Lăng Tiêu thường bật máy hát để tiếng ca du dương vang vọng khắp căn phòng. Thầy ấy nhã nhặn làm động tác mời rồi ân cần nắm tay dẫn dắt tôi học khiêu vũ.
“Nhị tiểu thư à, cái này người ta gọi là dance.”
Ở khoảng cách gần gũi như vậy, tim tôi bỗng đập liên hồi, hai má ửng đỏ vì ngượng ngùng. Trong lúc luống cuống, tôi cứ liên tục dẫm phải chân thầy ấy, thế nhưng Lăng Tiêu chẳng mảy may bận tâm mà vẫn kiên nhẫn hướng dẫn tôi từng động tác một.
Mỗi khi nhảy mệt, thầy ấy lại tự tay pha ba tách cà phê rồi gọi anh cả đang thơ thẩn ngoài sân vào cùng thưởng thức trà chiều.
Anh cả lập tức vứt chiếc trống trên tay xuống, hớn hở chạy ùa vào nhà, miệng lúng b.úng khen: “Ngon quá, ngon quá!”
Ngửi mùi hương cà phê nồng nàn lan tỏa và ngắm nhìn ánh nắng chan hòa ngoài cửa sổ, tôi chợt cảm thấy cuộc sống này thật đỗi ấm áp và bình yên.
Cha tôi tỏ ra rất coi trọng Lăng Tiêu. Ông ấy đặt kỳ vọng thầy ấy có thể gắn bó lâu dài với nhà họ Tống để giúp đỡ quán xuyến việc kinh doanh của gia tộc.
Ông ấy còn không quên dặn dò tôi: “Á Nam, con hãy cố gắng học hỏi từ thầy Lăng cho thật tốt nhé.”
“Vâng, thưa cha.” Tôi ngoan ngoãn gật đầu, nhưng khóe mắt lại âm thầm nhìn về phía Lăng Tiêu.
Nghe danh những gia đình quyền quý trên thành phố đều mời các vị giáo sư có tư tưởng tân tiến về dạy, tôi thầm thấy mình thật may mắn khi được gặp gỡ thầy ấy.
Cứ định kỳ mười năm một lần, nhà họ Tống lại tổ chức tuyển chọn con gái nuôi, và năm nay kỳ hạn ấy đã đến. Cha tôi lật giở vài bức chân dung của các bé gái, tỉ mẩn xem xét bát tự cùng ngày sinh tháng đẻ của từng người một cách vô cùng cẩn trọng.
Tôi chỉ tay vào một bức họa, rồi tò mò hỏi: “Thưa cha, tại sao gia đình mình lại có quy ước kỳ lạ này?”
Cha khẽ khoanh một vòng tròn lên bức chân dung đó, sắc mặt vẫn bình thản mà đáp rằng: “Cứ coi như đây là việc làm thiện tích đức đi, sau này khôn lớn con sẽ tự khắc hiểu thôi.”
Nhìn cô gái trong tranh, tôi cứ thấy có nét gì đó quen thuộc, dáng dấp hao hao giống người chị nuôi ngày trước. Kể từ ngày chị xuất giá lấy chồng xa, tôi vẫn chưa một lần được gặp lại chị ấy.
Có một sự thật lạ lùng là dường như tất cả những người con nuôi được gả đi từ nhà họ Tống đều bặt vô âm tín, chưa một ai từng quay trở về.
Tôi không khỏi tự hỏi rốt cuộc ẩn tình phía sau là gì?
Dạo gần đây, những cơn ác mộng về chị gái nuôi cứ liên tục bủa vây lấy tôi. Trong mơ, chị ấy khoác lên mình bộ hỷ phục đỏ rực rỡ, nhưng đôi mắt lại tuôn rơi những hàng lệ m.á.u thê lương.
Chị ấy dường như rất muốn nhắn nhủ điều gì đó, nhưng ngặt nỗi chị ấy vốn bị câm nên chẳng thể thốt ra được dù chỉ nửa lời.
Mỗi lần giật mình tỉnh giấc giữa đêm trường, tôi lại lục lọi trong tủ để tìm về những món kỷ vật nhỏ bé.
Cứ mỗi năm, cha đều đưa cho tôi một chiếc túi thơm mà theo lời ông ấy, đó chính là món quà do tự tay chị thêu và gửi về từ phương xa.
Năm chị mới bước chân vào phủ họ Tống cũng là lúc mẹ tôi vừa qua đời vì bạo bệnh. Thuở ấy tôi còn đang chìm đắm trong nỗi đau thương tột cùng, ngày nào cũng lấy nước mắt rửa mặt.
Người chị nuôi ấy đã luôn túc trực bên cạnh vỗ về tôi, dù không thể nói, nhưng chị ấy lại có đôi bàn tay vô cùng khéo léo, thường dùng rơm rạ đan thành những món đồ chơi nhỏ xinh cho tôi khuây khỏa.
Chị ấy còn rất giỏi nữ công gia chánh, từng đường kim mũi chỉ trên áo sống hay khăn tay của tôi đều là do chính tay chị ấy thêu.
Thế nhưng thật đáng tiếc, cha đã định sẵn hôn sự và gả chị ấy đi thật xa. Số phận trớ trêu khiến chị ấy không thể mãi ở lại bên cạnh tôi.
Suốt những năm tháng qua, tôi vẫn hằng đêm tha thiết nhớ thương chị ấy, thậm chí từng có lần ngỏ ý muốn tìm đến nơi chị ấy làm dâu để thăm hỏi nhưng đều bị cha từ chối.
Vì vậy, tôi đành phải chắt chiu những kỷ vật của chị ấy vào tủ, mỗi khi nhớ nhung lại mang ra ngắm nhìn cho thỏa lòng. Thế nhưng cứ mỗi lần tôi gặng hỏi về tình hình của chị, cha lại luôn trả lời bằng một thái độ hết sức mập mờ.
Chẳng bao lâu sau, cô con gái nuôi mới chính thức bước vào ngưỡng cửa nhà họ Tống.
Cha đã tổ chức một buổi lễ rước vô cùng náo nhiệt. Trước mặt cha, cô bé quỳ rạp xuống, và ngoan ngoãn cất lời: “Thu Lan xin ra mắt cha.”
Cha ân cần đỡ cô bé đứng dậy rồi trao cho em ấy một phong bao lì xì thật dày, kèm theo lời hứa: “Từ nay về sau con là con gái nhà họ Tống, ta nhất định sẽ tìm cho con một mối nhân duyên tốt.”
Những người xung quanh không ngớt lời tán dương, kẻ thì ca tụng cha tôi là bậc đại thiện nhân hiếm có, người lại cho rằng chính nhờ tâm địa hiền lương mà gia tộc họ Tống mới được phúc lộc, tiền tài vào như nước.
Tuy nhiên, khi chăm chú quan sát cô bé có gương mặt thanh tú này, tôi bàng hoàng nhận ra em ấy vốn bị mù, đôi mắt xinh đẹp kia tuyệt nhiên chẳng hề có lấy một tia sáng.
“Thu Lan, qua đây ngồi cạnh chị này.” Tôi dắt em ấy đến bên mình.
Cô bé mỉm cười, để lộ hai lúm đồng tiền ngọt lịm: “Em cảm ơn nhị tiểu thư.”
Tôi không khỏi thầm chép miệng xót xa, bởi một cô bé tật nguyền như thế nếu phải lưu lạc bên ngoài chắc chắn sẽ khốn khổ vô cùng.
Thật may là cha đã nhận em ấy làm con nuôi, ở phủ họ Tống ít ra cũng có được cái ăn cái mặc.
Thu Lan hòa nhập rất nhanh với cuộc sống mới, thậm chí trong cả những giờ học em ấy cũng luôn theo sát chúng tôi. Dù đôi mắt không thấy ánh sáng, nhưng em ấy lại có thể lắng nghe mọi thứ bằng cả trái tim mình.
Lăng Tiêu dành cho Thu Lan sự quan tâm đặc biệt. Khi giảng bài, thầy ấy luôn cố ý nói chậm lại, thậm chí còn tỉ mẩn nắn nót từng nét chữ vào lòng bàn tay để dạy em ấy học.
“Em cảm ơn thầy Lăng ạ.” Thu Lan ngoan ngoãn đáp lời.
Nhìn những cử chỉ tương tác thân mật của hai người họ, tôi bất giác cau mày khó chịu. Suy cho cùng em ấy cũng chỉ là một đứa con nuôi, tại sao thầy ấy lại phải bận lòng nhiều đến thế chứ?
Có lần Lăng Tiêu tổ chức cho bốn người chúng tôi đi dã ngoại. Suốt dọc đường đi, thầy ấy luôn dìu dắt Thu Lan, thậm chí ở những đoạn đường gập ghềnh thầy ấy còn chẳng ngại ngần cõng em ấy trên lưng.
Sự ưu ái nồng hậu ấy thầy ấy sẵn lòng dành cho một đứa con nuôi, thay vì mảy may để tâm đến vị nhị tiểu thư danh chính ngôn thuận là tôi đây.
Vì bất mãn nên tôi liền gằn giọng nhắc nhở: “Thầy Lăng, nhà họ Tống mời thầy về là để dạy dỗ tôi và anh cả, đó mới là nhiệm vụ chính của thầy.”
Lăng Tiêu quay người lại, khẽ nở một nụ cười nhã nhặn: “Thưa nhị tiểu thư, con người sinh ra vốn dĩ đều bình đẳng, chẳng hề có sự phân biệt sang hèn hay cao thấp.”
Tôi định mở miệng cãi lại nhưng chợt thấy mình thật bất lực. Từ khi sinh ra, anh cả đã được định sẵn là người thừa kế dù anh ấy có khờ khạo đến đâu, còn tôi, dù là nhị tiểu thư của nhà họ Tống nhưng mọi việc đều phải đặt lợi ích gia tộc lên hàng đầu và tuyệt đối không thể làm trái ý cha.