Dẫu vậy, lòng tôi cũng nhẹ nhõm đôi phần khi cha đã sớm định xong hôn sự cho Thu Lan.
Chỉ tháng sau thôi là cô bé sẽ phải xuất giá rồi.
Trong lòng tôi thầm cảm thấy vui mừng, tôi thầm nghĩ bụng việc gì phải so đo tính toán với con bé ấy làm chi. Bởi tôi mới là đại tiểu thư đích thực của nhà họ Tống, cha chắc chắn sẽ chẳng nỡ gả tôi đi xa mà hẳn sẽ giữ tôi lại bên cạnh mình.
Có lần, cha từng nói riêng với tôi rằng: “Lăng Tiêu là người học rộng tài cao, nếu cậu ấy bằng lòng ở lại thì hoàn toàn có thể trở thành một phần của nhà họ Tống chúng ta.”
Tôi thừa hiểu ngụ ý của cha, ông ấy muốn tác hợp thầy ấy thành con rể của nhà họ Tống. Nếu được như vậy thì còn gì tuyệt vời hơn, bởi hai chúng tôi vốn là một cặp trời sinh hoàn hảo nhất.
Khi Lăng Tiêu hay tin Thu Lan sắp bị gả đi xa, nụ cười trên gương mặt thầy ấy cũng dần dần lịm tắt.
Thầy ấy bận lòng vì Thu Lan đến mức ngay cả trong giờ lên lớp cũng thường xuyên lơ đãng như kẻ mất hồn.
Nhân lúc chỉ có hai người, tôi liền lên tiếng khuyên nhủ: “Việc con gái nuôi phải gả đi xa vốn là luật lệ bất thành văn của nhà họ Tống, thầy Lăng không cần phải quá đau lòng như thế.”
Lăng Tiêu khép trang sách lại, thầy ấy ngẩng đầu lên lẳng lặng nhìn tôi: “Nhị tiểu thư, người con gái xuất giá mười năm trước tên là Tống Uyển, có đúng không?”
“Đó là chị nuôi của tôi.” Trái tim tôi bỗng dưng thắt lại: “Nhưng sao thầy lại biết đến tên của chị ấy?”
“Tôi cũng chỉ nghe người ta kể lại thôi. Từ ngày xuất giá, cô ấy chưa một lần quay về, hay phải nói đúng hơn là những cô con gái nuôi của nhà họ Tống các người đều bị gả đi rất xa.”
Lăng Tiêu nhìn chằm chằm vào tôi không chớp mắt.
“Những sự sắp đặt của bậc trưởng bối, tôi nào có hay biết tường tận.” Tôi khẽ cau mày rồi dẫn thầy ấy đến nơi chị nuôi từng ở.
Lăng Tiêu đưa tay vuốt ve từng món đồ nội thất trong phòng, ánh mắt thầy ấy thoáng chốc trở nên xót xa và buồn bã lạ thường.
“Gia đình tôi không hề bạc đãi bọn họ, chuyện ăn mặc chưa từng để bọn họ thiếu thốn thứ gì.” Tôi lên tiếng bênh vực gia đình mình, rồi lại tiếp lời: “Mỗi năm chị nuôi đều nhờ người gửi một chiếc túi thơm về, chắc hẳn cuộc sống của chị ấy cũng trôi qua êm đềm thôi.”
Thầy ấy quay mặt sang nhìn tôi, rồi bỗng cất giọng hỏi với vẻ mặt vô cùng nghiêm túc: “Cô có thể kể cho tôi nghe chút chuyện năm xưa được không? Liệu cô ấy có thực sự cam tâm tình nguyện xuất giá hay không?”
Tôi thoáng sững sờ, nhưng trước ánh mắt dò xét của Lăng Tiêu, tôi vẫn quyết định kể lại toàn bộ sự thật: “Chị nuôi của tôi bị câm, chị ấy đã dùng thủ ngữ ra hiệu rằng mình muốn rời đi. Tôi từng lén lút thả chị đi, nhưng rốt cuộc chị ấy vẫn bị cha bắt về.”
Ngày hôm đó cha tôi đã vô cùng giận dữ, ông giáng cho tôi một cái tát đau điếng rồi còn mắng mỏ tôi thậm tệ: “Suýt chút nữa là mày đã phá hỏng đại sự của nhà họ Tống rồi.”
Lúc ấy tôi chỉ biết ôm mặt không dám hé nửa lời, lặng lẽ nhìn người ta dẫn chị đi. Đến ngày chị ấy lên kiệu hoa, nghe tiếng chiêng trống khua vang rộn rã, tôi định chạy ào ra ngoài tiễn chị ấy một đoạn nhưng lại bị cha nắm c.h.ặ.t lấy cánh tay giữ rịt lại.
Chuyện này vốn đã trở thành một nút thắt nghẹn ngào trong lòng tôi, chẳng ngờ nhiều năm sau lại có người khơi gợi lại.
Lăng Tiêu đột nhiên trở nên bận rộn lạ thường. Có những lúc tôi chẳng thấy bóng dáng thầy ấy đâu, cũng không rõ là thầy ấy đang bận bịu chuyện gì.
Tôi lén lút chạy đi tìm Thu Lan nhưng cô bé không có trong phòng, chỉ thấy ở góc phòng đang treo một bộ hỷ phục màu đỏ rực, giống hệt bộ mà chị nuôi từng mặc lúc xuất giá năm xưa.
Tôi đưa tay chạm vào lớp vải tinh xảo ấy, cảm giác man mát, lạnh lẽo tỏa ra khiến người ta bất giác rùng mình ớn lạnh.
“Thầy Lăng, em không muốn gả đi đâu.” Tiếng khóc nức nở của Thu Lan bỗng vang lên từ phía ngoài.
Tôi lập tức trốn tọt vào trong tủ quần áo, dỏng tai nghe ngóng động tĩnh bên ngoài. Lăng Tiêu đang dịu giọng an ủi cô bé: “Bây giờ đã là thời Dân Quốc rồi, rất nhiều nơi đã được tự do yêu đương, thầy sẽ nói giúp em.”
“Em cảm ơn thầy.” Thu Lan dần nín khóc.
Nhìn qua khe hở của cánh cửa tủ, tôi thấy Thu Lan đang nắm c.h.ặ.t lấy vạt áo của Lăng Tiêu như đang bấu víu vào chiếc phao cứu sinh cuối cùng. Trong lòng tôi không khỏi cười khẩy, làm sao cha tôi có thể chấp thuận lời thỉnh cầu của thầy ấy được, Thu Lan chắc chắn vẫn phải gả đi thôi.
Bởi lẽ những tư tưởng tân tiến mới mẻ ấy, nếu đặt vào cái trấn cổ kính này thì chẳng hề thích hợp chút nào.
Quả nhiên, cha tôi đã thẳng thừng từ chối.
Vài ngày sau, ông ấy đứng ở sảnh chính dõng dạc tuyên bố với chúng tôi rằng: “Các con phải nhớ kỹ, ta mới là chủ của cái nhà này, tất cả mọi người đều phải tuyệt đối tuân theo sự sắp xếp của ta.”
Tôi nhìn khuôn mặt uy nghiêm của cha, lại liếc sang đôi lông mày đang nhíu c.h.ặ.t của Lăng Tiêu, nhưng trong lòng lại cảm thấy nhẹ nhõm vô cùng. Thu Lan suy cho cùng cũng chỉ là một đứa con nuôi nên vẫn phải gả đi thôi. Chẳng ai có thể từ chối gia sản kếch xù của nhà họ Tống, và việc trở thành con rể nhà chúng tôi chỉ mang lại lợi ích cho thầy ấy mà thôi.
Ánh mắt cha dừng lại trên người tôi, ông ấy bỗng nhiên phẩy tay ra hiệu: “Hai anh em các con đi theo ta.”
Tôi lẳng lặng đi theo sau cha, băng qua sân sau để đến trước cửa Phật đường. Suốt dọc đường đi, anh cả cứ nở nụ cười ngây dại mãi không thôi. Cha đẩy mạnh cánh cửa Phật đường ra rồi cứ thế bước thẳng vào trong.
Tôi khựng lại trước ngưỡng cửa, chẳng dám bước vào. Bởi lẽ, căn Phật đường này vốn là nơi chỉ có gia chủ mới được phép đặt chân tới, còn tôi hoàn toàn không có tư cách đó.
“Vào cả đi.” Cha cất giọng ra lệnh.
Tôi rón rén từng bước tiến vào bên trong Phật đường của nhà họ Tống. Đó là một căn phòng lạnh lẽo và u ám, chẳng có lấy một tia nắng nào lọt qua nên ánh sáng cứ mờ ảo, hư thực. Tôi ngước mắt nhìn bức tượng Phật đang ngự trị trong phòng, ngài không hề mang dáng vẻ hiền từ nhân hậu, mà trái lại trông vô cùng dữ tợn và đáng sợ.
Trên bệ thờ đang cúng tế cả chục chiếc trống mang sắc nâu điểm xuyết chút xanh rêu. Chúng có hoa văn tinh xảo đến lạ kỳ, hoàn toàn khác biệt với những chiếc trống mà anh cả vẫn thường nghịch ngợm. Tôi cố ghé sát để nhìn kỹ hơn, rồi chợt bàng hoàng nhận ra hoa văn lẫn chất liệu của chúng sao mà giống hệt như da người đến vậy!
Thế nhưng, nhà chúng tôi sao có thể dùng da người để làm trống cho được? Thật là một ý nghĩ nực cười và vô căn cứ.
“Hì hì!” Anh cả vừa cười vừa chỉ tay vào chiếc trống mới nhất. Anh xoa xoa hai bàn tay vào nhau rồi khoe khoang: “Chiếc trống này là do chính tay anh làm đấy.”
Tại nhà họ Tống, việc người làm chủ gia tộc phải biết cách chế tác và sử dụng trống vốn là một luật lệ bất thành văn. Anh cả tuy ngốc nghếch trong mọi chuyện, nhưng riêng khoản làm trống thì lại vô cùng sành sỏi.
Lúc này, cha bước tới trước tượng Phật thành kính vái lạy. Vừa lầm rầm tụng kinh, đôi tay ông ấy vừa vỗ nhịp nhàng lên mặt trống. Tiếng trống tuy không lớn nhưng lại có sức mạnh chấn động tâm can.
Gương mặt cha toát lên vẻ trang nghiêm và thành kính lạ thường.
Ông ấy nói: “Nhà họ Tống ta sở dĩ hưng vượng được như ngày hôm nay, tất cả đều nhờ ơn thần Phật che chở. Và những chiếc trống này chính là bảo vật mà ngài yêu thích nhất.”
Đúng lúc đó, bỗng nhiên có một luồng gió lạnh từ ngoài cửa thổi thốc vào khiến tôi không khỏi rùng mình.
Trong đầu tôi giờ đây chỉ có duy nhất một suy nghĩ, đó là phải nhanh ch.óng rời khỏi nơi này.
10
Ngay khi nghi lễ cúng bái vừa kết thúc, tôi chẳng mảy may nán lại dù chỉ một giây. Cảm giác bức bối khó tả khiến tôi vội vã rời khỏi Phật đường để rảo bước về phía phòng của Lăng Tiêu.
“Thầy ơi, thầy đi dạo cùng em một lát nhé?” Tôi chủ động mở lời mời.
Thế nhưng, Lăng Tiêu đã từ chối với sắc mặt điềm tĩnh: “Xin lỗi em, tôi vẫn còn việc khác phải làm.”
Dẫu mang dáng vẻ của một bậc trí thức nho nhã, nhưng ở thầy ấy luôn toát ra sự xa cách lạnh lùng. Giữa chúng tôi dường như luôn tồn tại một bức màn sương mỏng manh ngăn cách chẳng thể xóa nhòa.
“Vậy uống với em một ly cà phê thôi cũng được mà.” Tôi miết nhẹ ngón tay lên vành tách.
Lần này Lăng Tiêu không từ chối nữa. Thầy ấy tự tay pha cho tôi một tách cà phê rồi bảo: “Em cứ thong thả thưởng thức nhé.”
Tôi nhấp một ngụm nhỏ, ánh mắt đăm đắm nhìn thầy ấy rồi hỏi: “Thầy ơi, thầy có nguyện ý ở lại nhà họ Tống này không?”
Thầy ấy liền đáp lại chẳng chút do dự: “Tôi không thể ở lại đây mãi được. Đợi khi khóa học kết thúc, tôi sẽ rời đi.”
Tôi siết c.h.ặ.t nắm tay, cố chấp hỏi lại: “Nếu em muốn thầy ở lại thì sao? Có được không thầy?”
Thầy ấy hướng ánh mắt ra ngoài cửa sổ rồi lại quay sang nhìn tôi: “Trấn Thanh Mộc quả thực rất đẹp, nhưng thế giới ngoài kia còn bao la rộng lớn lắm. Em nên bước ra ngoài để khám phá, đừng mãi giam mình ở nơi chật hẹp này.”
Đột nhiên, tôi cảm thấy sống mũi mình cay xè, một cảm giác thất bại ê chề bủa vây lấy tâm trí. Tôi sinh ra đã là nhị tiểu thư của nhà họ Tống, làm sao cha có thể để tôi rời đi, và anh cả cũng chẳng thể nào sống thiếu tôi cho được.