Ta nói ngươi khóc lóc cái gì, mau đi nấu cháo, cho thêm nhiều gạo vào, đừng nấu cái nước rửa nồi ấy nữa.
Hắn gật đầu lia lịa như bổ củi, lúc xoay người vào bếp còn lấy ống tay áo lau một vệt trên mặt.
Buổi chiều ta đi lên tường thành dạo một vòng.
Ngoài thành đen nghịt, doanh trại nối thành từng mảng, trải mãi đến tận chân núi, cờ xí nhiều đến đếm không xuể.
Trên đường trở về ta đi ngang qua Cố Trường Phong, hắn đứng sau lỗ châu mai trên tường thành nhìn bố trí bên ngoài, ta bước qua hắn cũng chẳng để ý đến ta.
“Năm vạn người, ngươi đánh thắng được sao?”
“Đánh thắng được hay không cũng phải đánh.”
“Nếu ngươi đánh không lại, đống trang sức của ta chẳng phải bán uổng rồi sao.”
Lần này hắn để ý đến ta, nhìn ta một cái, nhưng vẫn không nói gì.
Ban đêm bên ngoài lều có người nói chuyện, giọng bị nén rất thấp, thứ rèm lều rách nát này nào che được gì.
“Lương thực nhiều nhất chỉ trụ được bảy ngày.”
“Thám mã đâu?”
“Đã phái ra ba đợt, không có một ai trở về cả.”
Im lặng một lúc.
Cố Trường Phong nói một chữ.
“Thủ.”
Ta trở mình, không ngủ được.
Hộp trà để bên gối, đóa hoa dại bên trong đã khô héo hết rồi, co quắp thành một nắm nhỏ, nhưng vẫn còn màu vàng.
Không phải xót thương những người đó, là xót những món trang sức của ta.
Chín
Ngày thứ ba bị vây thành, bọn họ công thành.
Người đánh trống trên lầu thành trúng tên, lúc từ trên lỗ châu mai ngã xuống, dùi trống lăn đến bên chân ta.
Khi ta cúi xuống nhặt lên, Cúi Nhi ở phía sau túm lấy ống tay áo ta, túm rất chặt.
“Tiểu thư, đừng đi lên…”
Tôi hất tay nàng ra, xách váy bước lên thành lầu.
Chiếc trống rất lớn, còn lớn hơn những chiếc ta từng thấy ở kinh thành, da trâu căng chặt, dùi trống nặng đến mức cổ tay tê mỏi.
Trước kia ta vẫn cho rằng nhạc cụ như trống chẳng có phong vị gì, quá ồn, nào có tao nhã như cổ cầm.
Hắn đã đi xem.
Đứng trước cây cột mà nhìn rất lâu.
Rồi cười, sau đó lại khóc.
Hắn nói: “Đồ ngốc. Ta cũng đâu có dám nói chứ.”
Nếu lại có một lần nữa, đại khái ta vẫn sẽ không nói đâu.
Dẫu sao nói ra rồi thì chẳng còn đáng giá nữa mà.
15
Ngoài ba trăm dặm về phía nam biên quan có một trấn nhỏ, gọi là Thanh Thủy trấn, trấn không lớn, chỉ có hai con phố, ba con hẻm.
Trên trấn mới mở một hiệu vải, mở chưa được bao lâu, danh tiếng đã truyền ra khắp nơi.
Không phải vì vải tốt, mà là vì tính tình của chưởng quầy quá kém.
Chưởng quầy họ Lục, là một nữ nhân trẻ tuổi, không ai biết nàng từ đâu tới.
Ghét khách chọn vải làm bẩn tay, ghét tiểu nhị gấp vải gấp không ngay ngắn, ghét con đường trước cửa không sạch sẽ, mỗi sáng phải dội nước ba lần mới chịu mở cửa.
Người trên trấn đều sợ nàng, trẻ con đi ngang qua hiệu vải cũng phải vòng đường mà tránh.
Nhưng tiểu nhị trong hiệu vải ăn uống còn tốt hơn nhà khác, đến ngày lễ tết còn có thịt, chưởng quầy nói là sợ họ đói gầy đi sẽ làm không nổi việc, làm mất mặt nàng.
Mỗi năm vào mùa xuân, đều có một nam nhân rất cao cưỡi ngựa đến tiểu trấn.
Rất cao, khuôn mặt lạnh lùng, xương mày cao vút, hốc mắt sâu.
Giáp trụ đã được giặt đến bạc màu, mép ngoài bị mài ra ánh sáng.
Hắn không vào tiệm, chỉ đứng trước cửa hiệu vải một lát.
Chưởng quầy cầm một chiếc dù cũ bước ra mắng hắn cản đường.
Chiếc dù ấy đã bị hun đen một nửa, nửa còn lại vẫn còn nhìn ra hoa văn đào.
Hắn không đáp lại, chỉ đứng đó, nhìn nàng.
Nàng mắng từ cái ô đến giáp trụ, từ giáp trụ mắng đến giày, từ giày mắng đến mái tóc.
“Ngươi không thể gội đầu rồi hãy tới sao? Đi ngựa xa xôi đến đây là để chọc tức ta à?”
Mỗi lần hắn tới, chiếc cúc thứ ba bên trái đều lệch.
Mỗi lần nàng đều phải mắng cái cúc ấy.
“Lệch rồi, lại lệch rồi, ngươi cố ý đúng không?”
Hắn không nói gì.
Nàng mắng xong, hắn đặt một gói bánh nướng lên bậc cửa, rồi xoay người lên ngựa mà đi.
Bánh nướng vẫn còn nóng, bên ngoài cháy xém một vòng.
Nàng đuổi theo ra cửa, gọi một tiếng.
“Lần sau đừng tới nữa!”
Mỗi lần nàng đều nói vậy.
Mỗi lần hắn vẫn tới.
Gió ở biên quan thật lớn a.
Nhưng không sao.
(Hết toàn văn)